Thống kê Covid

All countries
116,670,105
Confirmed
Updated on 06 Mar, 2021 04:40
All countries
92,259,238
Recovered
Updated on 06 Mar, 2021 04:40
All countries
2,592,085
Deaths
Updated on 06 Mar, 2021 04:40

Dữ liệu toàn cầu

All countries
116,670,105
Ca
Updated on 06 Mar, 2021 04:40
All countries
92,259,238
Phục hồi
Updated on 06 Mar, 2021 04:40
All countries
2,592,085
Tử vong
Updated on 06 Mar, 2021 04:40

Điểm tin quan trọng của World Congress on Lung Cancer (WCLC) (26-29/1/2021)

Các từ viết tắt: OS (overall survival): sống còn toàn bộ; PFS (progression-free survival): sống thêm không bệnh tiến triển; NSCLC (non-small cell lung cancer): ung thư phổi không tế bào nhỏ.

Keytruda tiếp tục tỏa sáng. Keytruda (pembrolizumab) tiếp tục tỏa sáng với dữ liệu dài hạn từ ba thử nghiệm KEYNOTE ở NSCLC dương tính với PD-L1. KEYNOTE-010: Sau 5 năm, số bệnh nhân sử dụng Keytruda (25%) vẫn còn sống nhiều hơn gấp đôi so với những bệnh nhân điều trị docetaxel (8%).

Keytruda cũng vượt qua hóa trị platinum trong KEYNOTE-042, với OS ba năm là 31% đối với Keytruda và 18% đối với hóa trị liệu.

Dữ liệu 4 năm của KEYNOTE-189 cho thấy đầu tay Keytruda VÀ hóa trị liệu giảm một nửa nguy cơ tử vong so với đơn trị hóa trị ở bệnh nhân NSCLC không di căn.

NHƯNG KHÔNG có lợi ích khi thêm Yervoy vào Keytruda trong NSCLC. Kết hợp thuốc kháng CTLA-4 của Bristol Myers Squibb (Yervoy) và thuốc kháng PD-1 của Merck, trong điều trị đầu tay NCLSC có PD-L1 biểu hiện cao và không có đột biến EGFR hoặc ALK, không cải thiện được khả năng sống sót (KEYNOTE-598). OS là 21,4 tháng ở nhánh kết hợp Keytrude + Yervoy so với 21,9 tháng đối với nhánh Keytruda. PFS là 8 tháng ở cả hai nhóm.

Sự kết hợp của 2 chất ức chế trạm kiểm soát (checkpoint inhibitors) này dẫn đến nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng hơn, bao gồm tử vong. Merck đã tạm dừng thử nghiệm vào tháng 11.

Điều trị NSCLC đầu tay mà không cần hóa trị?
Thử nghiệm pha 1 kết hợp chất ức chế  PD-1 và chất ức chế tyrosine kinase (TKI) có tác dụng kháng sinh mạch trong điều trị đầu tay NSCLC tiến xa, có thể làm dấy lên hy vọng rằng một ngày nào đó có thể có lựa chọn điều trị không dùng hóa chất cho bệnh nhân.

Tyvyt (sintilimab) kết hợp với anlotinib làm giảm sự phát triển của mạch máu thông qua nhiều đích nhắm, thu nhỏ khối u ở 73% trên 22 bệnh nhân NSCLC giai đoạn 3B / 4. Các bệnh nhân có hỗn hợp nhiều trạng thái PD-L1 và không có đột biến gen EGFR, ALK, ROS1.

Mặc dù còn quá sớm để có dữ liệu OS, trung vị PFS là 15 tháng và 71% bệnh nhân còn sống sau một năm. Dữ liệu an toàn phù hợp với những gì mong đợi từ Tyvyt và chỉ một bệnh nhân rút khỏi thử nghiệm do tác dụng phụ. Năm bệnh nhân cần giảm liều anlotinib.

Cisplatin và carboplatin là 2 lựa chọn tương đương trong ung thư trung biểu mô
Một số nghiên cứu trước đây cho rằng cisplatin cho tỷ lệ đáp ứng cao hơn, nhưng tổng quan của Cochrane năm 2020 lại cho thấy carboplatin và cisplatin có hiệu quả như nhau trong việc kéo dài thời gian sống thêm trong NSCLC và điều này có vẻ cũng đúng với ung thư trung biểu mô.

Phân tích 787 bệnh nhân được điều trị đầu tay hoá trị platinum kết hợp pemetrexed từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 7 năm 2019 cho thấy 2 nhóm bệnh nhân dùng cisplatin và carboplatin có trung vị OS tương đương, không phụ thuộc vào biểu hiện PD-L1 hoặc mô học. 323 bệnh nhân nhận cisplatin có xu hướng trẻ hơn và khỏe mạnh hơn lúc ban đầu so với 464 bệnh nhân dùng carboplatin, nhưng sau khi điều chỉnh những khác biệt này, cả hai nhóm đều có trung vị OS là 8 tháng.

Cisplatin gây buồn nôn, nôn, độc thận và ảnh hưởng đến thính giác trong khi carboplatin có liên quan đến độc tính thần kinh nhiều hơn và giảm số lượng tiểu cầu. Kết quả từ thực tế nêu trên cho phép lựa chọn hoá trị platinum phù hợp với tình trạng bệnh nhân.

Opdivo (nivolumab) đạt kết cục chính trong nghiên cứu trên ung thư trung biểu mô. Opdivo kéo dài OS và PFS cho bệnh nhân bị u trung biểu mô màng phổi hoặc phúc mạc đã từng điều trị ít nhất 2 liệu pháp trước đó. Nghiên cứu pha 3 CONFIRM cho ngẫu nhiên hoá 221 bệnh nhân được tiêm Opdivo và 111 người được tiêm nước muối giả dược. Bệnh nhân tiếp tục điều trị trong một năm hoặc cho đến khi bệnh tiến triển, ngừng thử nghiệm hoặc quá nhiều độc tính. Trong kết quả sơ bộ, bệnh nhân dùng Opdivo tăng được ba tháng so với những người dùng giả dược (9,2 so với 6,6 tháng) và tỷ lệ sống thêm một năm là 40% ở nhóm Opdivo và 27% ở nhóm dùng giả dược. Cả 2 kết quả đều có ý nghĩa thống kê.

Johnson & Johnson và Takeda cạnh tranh trong điều trị NSCLC có đột biến EGFR chèn thêm exon 20
Đột biến chèn exon 20 chiếm 10% tổng số đột biến EGFR trong NSCLC nhưng có rất ít lựa chọn điều trị: không đáp ứng tốt với TKI và không có bất kỳ liệu pháp nhắm đích nào được chấp thuận. Tiêu chuẩn chăm sóc là hóa trị platinum lại không cho hiệu quả cao, trung vị PFS khoảng 7-9 tháng.

J & J phát triển amivantamab, kháng thể đặc hiệu kép nhắm vào đột biến gen EGFR và MET. Thử nghiệm pha 1 CHRYSALIS trên 81 bệnh nhân ung thư di căn hoặc không thể cắt bỏ được cho thấy: sau sáu tháng theo dõi trung bình, 40% bệnh nhân có khối u nhỏ lại, ba người có đáp ứng hoàn toàn. Amivantamab kéo dài PFS thêm 8 tháng và thời gian sống thêm gần 2 năm. Các tác dụng phụ phổ biến nhất là phát ban và các phản ứng liên quan đến tiêm truyền, viêm móng. 

Trong khi đó, Takeda phát triển mobocertinib, TKI đường uống nhắm đích đột biến EGFR chèn exon 20  (EXCLAIM pha 1/2) cho cùng đối tượng bệnh nhân như CHRYSALIS. Ủy ban đánh giá dữ liệu độc lập kết luận 28% bệnh nhân có đáp ứng mặc dù ước tính của các nhà điều tra là 35%. Trung vị đáp ứng là 17 tháng, dài hơn so với amivantamab, nhưng trung vị PFS chỉ là 7 tháng – tương đương với chăm sóc tiêu chuẩn hiện tại.

Một vấn đề khác được nêu lên trong WCLC lần này là việc cần có đa chủng tộc, có cân bằng giữa các giới tính, có cộng đồng LGBT+ tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng cho ung thư phổi. Đây cũng là điều mà các chuyên ngành khác cũng đang mong muốn.

Nguồn: Statnews. WCLC in 30 seconds newsletter

 

Điểm tin trong tuần

Sanofi và GSK thông báo hoãn chương trình vắc-xin COVID-19 dựa trên protein tái tổ hợp bổ trợ của họ để cải thiện phản ứng miễn dịch ở người lớn tuổi. Kết quả tạm thời của nghiên cứu giai đoạn 1/2 cho thấy đáp ứng miễn dịch tương đương với những bệnh nhân hồi phục sau COVID-19 ở người lớn từ 18 đến 49 tuổi, nhưng đáp ứng miễn dịch thấp ở người lớn tuổi có thể do nồng độ kháng nguyên không đủ.

Hot Topics

Ngăn ngừa & điều trị sẹo lồi/sẹo phì đại

Tác giả: Phạm Thị Quỳnh Hương BSc. Bùi Hoàng Thanh Long BPharm, MSc Hướng dẫn & hiệu đính: Phạm Phương Hạnh, RPh, MSc Sẹo là kết quả khó...

Ngăn ngừa sai sót khi tiến hành tiêm chủng vaccine Covid-19

Lược dịch bởi: Nguyễn Công Thành, SV Dược ĐH Hutech Bùi Hoàng Thanh Long, BPharm, MSc Hiệu đính: Phạm Phương Hạnh, RPh, MSc Viện thực hành an toàn...

Công cụ lâm sàng MIỄN PHÍ: Giảm hay ngưng kê toa một số thuốc

Thông thường, chúng ta được dạy về việc khởi phát điều trị với một thuốc nào đó nhiều hơn là việc giảm hay ngưng...

Bài viết liên quan

Ngăn ngừa & điều trị sẹo lồi/sẹo phì đại

Tác giả: Phạm Thị Quỳnh Hương BSc. Bùi Hoàng Thanh Long BPharm, MSc Hướng dẫn & hiệu đính: Phạm Phương Hạnh, RPh, MSc Sẹo là kết quả khó...

Ngăn ngừa sai sót khi tiến hành tiêm chủng vaccine Covid-19

Lược dịch bởi: Nguyễn Công Thành, SV Dược ĐH Hutech Bùi Hoàng Thanh Long, BPharm, MSc Hiệu đính: Phạm Phương Hạnh, RPh, MSc Viện thực hành an toàn...

Công cụ lâm sàng MIỄN PHÍ: Giảm hay ngưng kê toa một số thuốc

Thông thường, chúng ta được dạy về việc khởi phát điều trị với một thuốc nào đó nhiều hơn là việc giảm hay ngưng...